Cổng thông tin điện tử Sở Tư Pháp - Kiên Giang

Giới thiệu văn bản

Xem với cỡ chữAA

Điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế, kho bãi, địa điểm làm thủ tục hải quan

(09:35 | 17/08/2020)

Ngày 15/6/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 67/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định về điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế, kho bãi, địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan. Nghị định này bãi bỏ điểm c khoản 1 Điều 9, điểm c khoản 1 Điều 13, khoản 3 Điều 19, khoản 3, khoản 4 Điều 25, điểm c khoản 1 Điều 34 Nghị định số 68/2016/NĐ-CP và bỏ cụm từ “tập trung như” tại điểm 3 khoản 2 Điều 1 Nghị định số 59/2018/NĐ-CP.

Nghị định bổ sung các khoản 8, 9, 10 Điều 3 “Giải thích từ ngữ”  gồm Địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát tập trung đối với hàng bưu chính, chuyển phát nhanh (khoản 8); Kho ngoại quan chuyên dùng (khoản 9); Bãi ngoại quan (khoản 10).

Rút gọn thành phần Hồ sơ cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế, chỉ còn 04 loại (trước đây 08 loại) gồm có: (1) 01 bản chính Văn bản đề nghị cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế theo Mẫu số 01 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này. (2) 01 bản chụp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư hoặc chứng từ khác quy định tại khoản 4 Điều 81 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp. (3) 01 bản chụp Sơ đồ thiết kế khu vực, vị trí cửa hàng miễn thuế, kho chứa hàng miễn thuế, vị trí lắp đặt hệ thống camera. (4) 01 bản chụp Giấy chứng nhận đủ điều kiện phòng cháy và chữa cháy do cơ quan công an cấp (trừ trường hợp nằm trong khu vực đã được công nhận đủ điều kiện phòng cháy và chữa cháy)

Bổ sung 01 trường hợp chấm dứt hoạt động địa điểm làm thủ tục hải quan tại cảng cạn “Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ra Quyết định đóng cảng cạn” (điểm e khoản 1 Điều 35) 

Bổ sung 01 điều quy định về Công nhận kho, bãi, địa điểm trong khu vực cảng biển, cảng thủy nội địa, cảng hàng không quốc tế, ga đường sắt liên vận quốc tế đủ điều kiện tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan (Điều 38a), trong đó đối với các kho, bãi, địa điểm nằm trong khu vực cảng biển, cảng thủy nội địa, cảng hàng không quốc tế, ga đường sắt liên vận quốc tế được cơ quan có thẩm quyền quy hoạch và công bố thì doanh nghiệp kinh doanh địa điểm tập kết, lưu giữ hàng hóa xuất, nhập khẩu đề nghị Tổng cục Hải quan thực hiện thủ tục công nhận địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đủ điều kiện tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan và chịu sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát của cơ quan hải quan. Đối với các kho, bãi, địa điểm trong khu vực cảng biển, cảng thủy nội địa, cảng hàng không quốc tế, ga đường sắt liên vận quốc tế được Bộ Giao thông vận tải công bố trước khi Nghị định này có hiệu lực không phải thực hiện công nhận theo quy định tại Điều này; Kho, bãi, địa điểm tập kết, lưu giữ hàng hóa phải đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Nghị định này. Diện tích kho, bãi công nhận được xác định theo đề nghị công nhận của doanh nghiệp; diện tích kho, bãi nằm trong quy hoạch cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất phải có khu đất tối thiểu 1.000 m2, nằm trong các cảng hàng không quốc tế còn lại và cảng hàng không nội địa phải có diện tích khu đất tối thiểu 500 m2; Kho, bãi nằm trong khu vực ga đường sắt liên vận quốc tế phải có diện tích khu đất tối thiểu 1.000 m2.

Doanh nghiệp thực hiện thủ tục công nhận kho, bãi, địa điểm tập kết, lưu giữ hàng hóa theo trình tự quy định tại Điều 12 Nghị định này trước khi đưa hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu vào tập kết để làm thủ tục hải quan. Khi thực hiện mở rộng, thu hẹp, đổi tên, di chuyển, chuyển quyền sở hữu, tạm dừng, chấm dứt hoạt động địa điểm tập kết, lưu giữ hàng hóa thực hiện theo trình tự quy định tại Điều 13, Điều 14 và Điều 15 Nghị định này.

Trình tự công nhận đối với các kho, bãi, địa điểm nằm trong khu vực cảng biển, cảng thủy nội địa, cảng hàng không quốc tế, ga đường sắt liên vận quốc tế được cơ quan có thẩm quyền quy hoạch và công bố.

Thương nhân đầu mối hoặc thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu đã được cơ quan hải quan công nhận đủ điều kiện kinh doanh, đủ điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan có trách nhiệm thực hiện trang bị thiết bị đo mức bồn, bể tự động đáp ứng điều kiện theo quy định tại Nghị định này trong thời hạn 02 năm kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành. Đối với kho, bãi, địa điểm đã được công nhận trước đây nhưng không đáp ứng điều kiện quy định về phần mềm tại Nghị định này, trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành doanh nghiệp thực hiện nâng cấp phần mềm đáp ứng điều kiện theo quy định.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 8 năm 2020.

Võ Thị Thuý Phượng