Cổng thông tin điện tử Sở Tư Pháp - Kiên Giang

Tài liệu giới thiệu Luật, Pháp lệnh

Xem với cỡ chữAA

Nội dung cơ bản của Luật lực lượng dự bị động viên

(16:05 | 04/05/2020)

Ngày 26/11/2019, Quốc hội khóa XIV tại kỳ họp thứ 8 thông qua Luật Lực lượng dự bị động viên nhằm thay thế Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên năm 1996. Luật cụ thể hóa các quy định hiện hành về huy động lực lượng dự bị động viên đồng thời, bổ sung một số quy định thực hiện huy động lực lượng dự bị động viên làm nhiệm vụ khi có thảm họa do thiên nhiên hoặc con người gây ra, dịch bệnh nguy hiểm; cùng với các quy định cụ thể bảo đảm sự tuân thủ của Hiến pháp năm 2013 về hạn chế quyền con người, quyền công dân...

Luật Lực lượng dự bị động viên (gọi tắt là Luật) có 5 chương, 41 Điều; Sở Tư pháp xin giới thiệu một số nội dung cơ bản của Luật, như sau:

Thứ nhất, Luật đã xác định 6 nguyên tắc xây dựng, huy động lực lượng dự bị động viên (DBĐV): Một là, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Hai là, xây dựng lực lượng DBĐV vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có trình độ chiến đấu cao và được quản lý chặt chẽ. Ba là, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân. Bốn là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh; phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Năm là, xây dựng, huy động đơn vị DBĐV bảo đảm đủ quân số, phương tiện kỹ thuật dự bị; đúng tiêu chuẩn, thời gian; bảo đảm bí mật, an toàn theo quy định của pháp luật. Sáu là, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ trong xây dựng, huy động lực lượng DBĐV.

Thứ hai, quy định 5 hành vi bị nghiêm cấm trong xây dựng, huy động lực lượng DBĐV: Trốn tránh thực hiện trách nhiệm của quân nhân dự bị, nghĩa vụ của chủ phương tiện kỹ thuật dự bị được huy động, điều động; Chống đối, cản trở việc xây dựng, huy động lực lượng DBĐV; Huy động, điều động lực lượng DBĐV không có trong kế hoạch được phê duyệt; Lợi dụng, lạm dụng việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng, huy động lực lượng DBĐV xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Phân biệt đối xử về giới trong xây dựng, huy động lực lượng DBĐV.

Thứ ba, Luật quy định quyền và nghĩa vụ của chủ phương tiện kỹ thuật dự bị, người vận hành, điều khiển phương tiện kỹ thuật dự bị huy động, điều động phương tiện kỹ thuật dự bị và quy định về bồi thường thiệt hại; đồng thời viện dẫn mức bồi thường, việc chi trả bồi thường thiệt hại cho chủ phương tiện thực hiện như đối với người có tài sản trưng dụng theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản bảo đảm rõ ràng, minh bạch và bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, đúng quy định của Hiến pháp về quyền về tài sản của công dân.

Thứ tư, Luật quy định cụ thể thẩm quyền lập kế hoạch, nội dung kế hoạch, thẩm định, phê duyệt kế hoạch và rà soát, điều chỉnh, lập mới kế hoạch nhằm bảo đảm thống nhất hệ thống kế hoạch xây dựng, huy động, tiếp nhận lực lượng DBĐV của các cấp từ Trung ương đến địa phương, cũng như trong Quân đội được giao bảo đảm tính kế hoạch trong xây dựng lực lượng thường trực của Quân đội khi có tình huống xảy ra kịp thời, hiệu quả.

Thứ năm, Luật quy định việc đăng ký, quản lý phương tiện kỹ thuật dự bị trên cơ sở cơ quan đăng ký quyền sở hữu phương tiện, định kỳ hằng năm cung cấp thông tin đăng ký phương tiện kỹ thuật dự bị; tạo điều kiện thuận lợi, tránh gây phiền hà cho cá nhân, tổ chức trong đăng ký, quản lý phương tiện kỹ thuật dự bị. Việc đăng ký, quản lý phương tiện kỹ thuật dự bị được quy định trong Luật không ảnh hưởng đến quyền của công dân về tài sản.

Tùy theo tính chất nhiệm vụ của lực lượng DBĐV và tình hình phát triển khoa học kỹ thuật quân sự, dân sự trong từng thời kỳ, từng giai đoạn mà yêu cầu huy động phương tiện kỹ thuật dự bị khác nhau. Để bảo đảm sự linh hoạt, chủ động và bí mật trong tác chiến, nên Luật giao Chính phủ quy định Danh mục phương tiện kỹ thuật dự bị và việc đăng ký, quản lý phương tiện kỹ thuật dự bị.

Thứ sáu, quy định độ tuổi quân nhân dự bị sắp xếp vào đơn vị DBĐV trong thời bình nhằm bảo đảm sức khỏe và nâng cao chất lượng của quân nhân dự bị để sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ. Khi có chiến tranh, việc gọi quân nhân dự bị vào phục vụ tại ngũ được thực hiện theo Luật sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam; Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng và Luật Nghĩa vụ quân sự.

Thứ bảy, Luật quy định các trường hợp huy động lực lượng DBĐV: Khi thực hiện lệnh tổng động viên hoặc lệnh động viên cục bộ; Khi thi hành lệnh thiết quân luật; Khi có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp; Để phòng, chống, khắc phục hậu quả thảm họa, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm. Nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đòi hỏi và thống nhất với quy định của Luật Quốc phòng.

Thứ tám, quy định chế độ phụ cấp đối với quân nhân dự bị được xếp vào đơn vị DBĐV, quân nhân dự bị được bổ nhiệm chức vụ chỉ huy đơn vị DBĐV; chế độ, chính sách đối với quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu và huy động khi chưa đến mức tổng động viên hoặc động viên cục bộ; chế độ trợ cấp đối với gia đình quân nhân dự bị; chế độ, chính sách đối với người vận hành, điều khiển phương tiện kỹ thuật dự bị trong thời gian được huy động. Việc Luật quy định như trên được rà soát chặt chẽ, đầy đủ đối tượng, trách nhiệm, quyền lợi, thể hiện cụ thể quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với các đối tượng được hưởng, thống nhất quy định của pháp luật. Luật giao Chính phủ quy định chi tiết nhằm bảo đảm phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ, từng giai đoạn.

Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2020./.

Kim Loan