Cổng thông tin điện tử Sở Tư Pháp - Kiên Giang

Tin chuyên ngành

Xem với cỡ chữAA

Một năm nhìn lại công tác Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

(08:26 | 22/01/2019)

Trong năm 2018, công tác xây dựng văn bản QPPL của tỉnh được thực hiện tốt, tuân thủ chặt chẽ theo đúng trình tự, thủ tục, chất lượng văn bản ngày càng được nâng lên; các văn bản QPPL trước khi ban hành đều được cơ quan soạn thảo tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, đăng tải lên Cổng thông tin điện tử của tỉnh để lấy ý kiến Nhân dân và gửi hồ sơ cho cơ quan Tư pháp thẩm định theo đúng quy định. Nội dung văn bản đảm bảo các yêu cầu về tính hợp hiến, hợp pháp, phù hợp với các quy định của cơ quan nhà nước cấp trên; đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình xây dựng và ban hành văn bản QPPL của tỉnh trong thời gian qua cũng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc nhất định. Chẳng hạn như:

 Do số lượng văn bản của Trung ương quá nhiều nên công tác rà soát văn bản chưa đảm bảo được tính kịp thời dẫn đến việc tham mưu ban hành văn bản còn chậm trễ. Bên cạnh đó, nội dung các văn bản liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, cần nhiều thời gian để nghiên cứu, trao đổi, lấy ý kiến thống nhất của các ngành chức năng nên trong một số trường hợp việc ban hành văn bản QPPL của tỉnh để triển khai những quy định của Trung ương chưa được thực hiện kịp thời. Mặt khác, một số Sở, ngành chưa chủ động rà soát, tham mưu cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản theo quy định, nhất là đối với các văn bản phải ban hành để thực hiện hàng năm theo quy định của pháp luật dẫn đến việc văn bản được ban hành không đảm bảo có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 của năm thực hiện theo quy định.

Các cơ quan tham mưu xây dựng văn bản chưa chú trọng việc tổ chức lấy ý kiến dự thảo văn bản QPPL, nhất là đối với việc lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Mặt khác, các cơ quan được lấy ý kiến chưa thực sự quan tâm đóng góp ý kiến để xây dựng văn bản nên trong một số trường hợp việc lấy ý kiến chưa đạt được hiệu quả cao; việc đăng tải toàn văn Dự thảo lên Cổng thông tin điện tử của tỉnh để lấy ý kiến không đạt được hiệu quả do chưa nhận được sự quan tâm nhiều từ người dân.

Theo quy định tại Khoản 4, Điều 14 của Luật năm 2015 thì văn bản QPPL của tỉnh không được quy định thủ tục hành chính trừ trường hợp được giao trong Luật. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các văn bản dưới luật giao hoặc qua thực tế địa phương phát sinh các nội dung cần quy định thủ tục hành chính thì địa phương gặp nhiều khó khăn trong việc ban hành các văn bản. Trong trường hợp này, nếu địa phương không quy định trình tự, hồ sơ, yêu cầu, điều kiện và cách thức thực hiện... sẽ dẫn đến việc tùy tiện trong tổ chức thực hiện, không đảm bảo được tính công khai, minh bạch hoặc cơ quan thực hiện tự quy định các mẫu đơn, tờ khai và trình tự, thủ tục để hướng dẫn các tổ chức, cá nhân gây khó khăn, phiền hà và không đồng bộ trên địa bàn. Do đó, Luật năm 2015 quy định cấm” quy định thủ tục hành chính ở địa phương làm hạn chế tính linh hoạt, chủ động của địa phương trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

Một số Sở, ngành vẫn còn lúng túng trong việc tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh lập đề nghị xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, nhất là đối với quy trình đề nghị xây dựng chính sách vì nội hàm của “chính sách” tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP chưa được giải thích rõ ràng nên chưa có sự thống nhất với nhau trong việc hiểu và áp dụng quy trình xây dựng chính sách. Do đó, việc xác định nội dung chính sách và nội dung cần thực hiện việc phân tích, đánh giá tác động của chính sách còn gặp nhiều lúng túng. Đồng thời, việc quy định các nghị quyết tại Khoản 2, Khoản 3 và Khoản 4, Điều 27 Luật năm 2015 đều phải thực hiện quy trình phân tích và đánh giá tác động của chính sách trong một số trường hợp là không thực sự cần thiết dẫn đến việc xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao. Ngoài ra, Luật năm 2015 còn quy định việc đánh giá tác động của văn bản trong trường hợp dự thảo quyết định có quy định cụ thể các chính sách đã được quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên nhưng Nghị định số 34/2016/NĐ-CP chưa hướng dẫn cụ thể nội dung này nên các cơ quan tham mưu rất khó triển khai thực hiện.

Để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xây dựng văn bản QPPL của cấp tỉnh nói riêng và trên địa bàn tỉnh nói chung trong thời gian tới, cần nghiên cứu thực hiện tốt những giải pháp sau:

Thứ nhất, các cơ quan tham mưu xây dựng văn bản QPPL cần chủ động trong việc rà soát, tham mưu cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản QPPL để kịp thời triển khai các văn bản của Trung ương cũng như đảm bảo yêu cầu quản lý nhà nước ở địa phương.

Thứ hai, các cơ quan tham mưu xây dựng văn bản cần chú trọng, quan tâm hơn nữa đối với hoạt động lấy ý kiến Dự thảo văn bản QPPL; ngược lại, các cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến cần chủ động tham gia đóng góp ý kiến các Dự thảo văn bản QPPL của tỉnh, đảm bảo nội dung góp ý có chất lượng và góp ý đúng thời gian theo quy định.

Thứ ba, công tác xây dựng văn bản QPPL là một lĩnh vực phức tạp, đòi hỏi những người làm công tác này không những có trình độ chuyên môn về văn bản mà còn phải có kinh nghiệm, trình độ hiểu biết đối với nhiều lĩnh vực khác. Vì vậy, để thu hút những người có năng lực, trình độ vào làm việc ở lĩnh vực này, cần phải quan tâm, có chính sách ưu đãi đối với công chức hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, ban hành văn bản QPPL./.

Thùy Lan